Người giàu, người nghèo và sự gia tăng khoảng cách giữa họ


Người Mỹ không có tính ghen tỵ. Mặc dù khoảng cách giữa người giàu và người nghèo tại Mỹ lớn hơn tất cả các nước phát triển khác nhưng hầu hết người dân Mỹ không quan tâm đến điều này. 

Trong khi người Châu Âu bực bội về cách chiếc bánh kinh tế bị chia sẻ thì người Mỹ muốn gia nhập vào đội ngũ người giàu chứ không dè bỉu họ. 8 trên 10 người Mỹ, tỉ lệ cao hơn bất cứ nơi nào khác, tin rằng dù bạn có thể bắt đầu từ sự nghèo khó, nếu làm việc chăm chỉ, bạn có thể kiếm được rất nhiều tiền. Đây chính là phần chủ yếu của Giấc mơ Mỹ.  

Do đó, sự đồng lòng về mặt chính trị thể hiện ở việc cố gắng đạt tới sự tăng trưởng kinh tế hơn là phân phối lại thu nhập, thực hiện câu châm ngôn của Tổng thống John Kenedy: tăng trưởng kinh tế như nước triều dâng nâng tất cả thuyền bè. Nước triều đang tăng nhanh trong vài năm gần đây. Nhờ bước nhảy vọt trong tăng trưởng sản xuất sau năm 1995, nền kinh tế Mỹ đã tăng trưởng nhanh hơn các nước giàu khác tới một thập kỷ. Các công nhân Mỹ giờ đây sản xuất tăng năng suất hơn 30% so với mỗi giờ họ làm cách đây 10 năm. Vào cuối những năm 90, tất cả mọi người đều hưởng chung thời kỳ phát đạt này. Mặc dù thu nhập tăng ở mức nhanh nhất, lương của công nhân vượt xa mức  lạm phát. 

Nhưng sau năm 2000 đã có sự thay đổi. Tốc độ tăng trưởng kinh tế lại tăng lên nhưng giờ đây, có vẻ như mức triều dâng của tăng trưởng kinh tế nâng được ít thuyền lên hơn. Sau khi có những điều chỉnh đối với lạm phát, lương của một công nhân Mỹ điển hình, một người ở mức thu nhập trung bình trong xã hội, chỉ tăng lên chưa tới 1% kể từ năm 2000. 5 năm trước, mức tăng này là hơn 6%. Nếu xem xét tới giá trị các lợi ích của người lao động, chẳng hạn như chăm sóc sức khoẻ, thì sự tương phản này bớt ảm đạm một chút. Tuy nhiên, dù có tính toán theo phương thức nào đi nữa, rõ ràng chỉ có những công nhân lành nghề nhất mới được tăng lương nhiều trong sự tăng trưởng kinh tế hiện nay. Thành quả của tăng trưởng kinh tế đã nghiêng về phía những người kiếm được nhiều tiền nhất và về phía các công ty có lợi nhuận đạt được ở mức kỷ lục bằng một phần trong GDP.  

Thậm chí ở một đất nước rất khoan dung với sự bất bình đẳng, việc thuỷ triều nâng được quá ít thuyền lên cũng dẫn tới những hậu quả chính trị. Ảnh hưởng của việc đình đốn tiền lương còn trở nên ảm đạm hơn do việc tăng giá nhà và hầu hết người Mỹ vẫn cảm thấy không hài lòng với nền kinh tế. Theo cuộc nghiên cứu mới nhất của Viện Gallup, chỉ có chưa đến 4 trên 10 người cho rằng nền kinh tế đang trong trạng thái vận hành tuyệt vời hoặc tốt, so với tỷ lệ gần 7 trên 10 thời Geogre Bush nắm quyền tổng thống. 

Tuy nhiên, Nhà Trắng lại tự cho là không có vấn đề gì cần lo ngại. Tổng thống Bush thường chỉ ra rằng, trong nhiệm kỳ của mình, thu nhập sau thuế tính theo đầu người tăng hơn 8% dù đã có một lần nạn lạm phát đã xảy ra. Ông Bush đúng, tuy nhiên lời tuyên bố của ông chỉ là một sự mỵ dân vì tầng lớp công nhân ở giữa - những người có mức thu nhập trung bình – không có đời sống tốt bằng một bộ phận công nhân lành nghề đã có đời sống vượt lên do được tăng lương với mức cao. 

Trên quan điểm cá nhân, một số nhà hoạch định chính sách thừa nhận rằng xu hướng hiện thời của nền kinh tế khiến họ lo ngại và không chỉ đơn thuần bởi cuộc bầu cử quốc hội vào tháng 11. Các số liệu thống kê cho thấy sự bùng nổ kinh tế có lẽ đã tạm lắng xuống. Người dân Mỹ vẫn đứng đầu trong việc thích thú mua sắm nhưng lý do khiến họ mở hầu bao là bởi lãi suất tiết kiệm đã giảm và các khoản nợ đang tăng lên (nguyên nhân có thể do giá nhà cao) chứ không phải do sự gia tăng thu nhập thật sự. Việc phá sản của một số công ty có thể dẫn tới tình trạng bất mãn về chính trị một cách phổ biến. Thậm chí, cơ cấu xã hội của nước Mỹ có thể bị ảnh hưởng. Một quan chức Mỹ cho rằng “ nếu mọi chuyện vẫn tiếp diễn theo chiều hướng này một thời gian dài nữa, chúng ta sẽ đi đến kết cục như Brazil”, một đất nước tai tiếng về sự quan tâm tới thu nhập và sự giàu có”.  

Tuy nhiên hiện giờ Mỹ vẫn chưa giống Braxil. Dù ¼ thế kỷ qua, các nguồn thu nhập khác nhau rất xa, việc phân bổ sự giàu có vẫn duy trì được ở mức rất ổn định. Những người Mỹ giàu có nhất hiện giờ vẫn giữ tỷ lệ thu nhập trong tổng thể thu nhập với mức lớn ngang bằng mức họ đã giữ trong thế kỷ trước nhưng phần của họ trong tổng số của cải đã thấp hơn rất nhiều. Trên thực tế, mức thu nhập này hầu như không tăng trong vài thập kể vừa qua. 

Những người giàu có trong những năm đầu thế kỷ 20 sống bằng nguồn thu nhập từ của cải họ tích lũy và được thừa kế. Những người giàu hiện nay tự kiếm tiền bằng bản thân mình. Vào năm 1961, chỉ có 1% số người giàu nhất có 1/5 nguồn thu nhập từ việc làm công ăn lương trong khi con số này là hơn 60% vào năm 2004.  

Những người giàu không nhàn rỗi 

Sự gia tăng của những người lao động giàu có càng củng cố hình ảnh của nước Mỹ như miền đất của cơ hội làm giàu. Tuy nhiên, xét trên một chừng mực nào đó, hình ảnh này chỉ là một ảo giác. Một vài cuộc nghiên cứu gần đây* chỉ ra rằng ở Mỹ, người ta có thể tiên đoán về việc một người có thể trở nên giàu có hoặc nghèo khó dễ dàng hơn ở Canada, và dễ hơn nữa ở Châu Âu. Tại Mỹ, khoảng một nửa sự chênh lệch trong một thế hệ được phản ánh trong thế hệ kế tiếp. Tại Canada và các nước Bắc Âu, tỷ lệ này chỉ là 1/5.  

Khó mà nhận biết rằng điều này có tăng lên hay không vì các bằng chứng không rõ ràng cho lắm. Nhiều cuộc nghiên cứu chỉ ra rằng sự thay đổi giữa các thế hệ vẫn giữ mức gần giống nhau trong các thập kỷ gần đây. Tuy vậy, dân thường Mỹ dường như vẫn tin rằng đất nước của mình là miền đất của các cơ hội làm giàu. Tỷ lệ những người tin rằng bạn có thể bắt đầu từ nghèo khó nhưng sẽ trở nên giàu có tăng lên 20% kể từ năm 1980. 

Điều này lý giải tại sao những cử tri dù có thể không hài lòng về nền kinh tế, vẫn không phản đối lại các chính trị gia. John Edwards, ứng cử viên phó tổng thống của Đảng Dân chủ năm 2004, đã thực hiện một sự tiến bộ nhỏ với thuyết “2 nước Mỹ” của ông, một cho người giàu và một cho những người còn lại. 70% dân Mỹ ủng hộ việc bãi bỏ thuế bất động sản (thuế thừa kế) mặc dù chỉ có 1 trong số 100 chủ hộ phải đóng loại thuế này. 

Người Mỹ cho rằng những tai họa của họ không phải do những người yêu nước giàu có mà cho những kỹ sư nghèo khó gây nên. Hơn 6 trên 10 người hoài nghi về tự do thương mại. Một cuộc thăm dò dư luận mới đây trên tờ Ngoại giao cho thấy gần 9 trên 10 người được hỏi lo ngại rằng họ sẽ bị mất việc. Các nghị sĩ cũng phản ánh mối quan ngại của họ. Mặc dù kinh tế tăng trưởng, nhiều người trở thành người ủng hộ nhiệt thành cho chế độ bảo vệ nền công nghiệp trong nước. 

Các nước giàu khác đang theo dõi một cách sát sao kinh nghiệm của Mỹ. Với nhiều người Châu Âu, nhãn hiệu chủ nghĩa tư bản của Mỹ đã trở nên quá không tương thích. Những người theo chủ nghĩa hoài nghi này cho rằng việc tạo dựng bất cứ dấu hiệu nào cho thấy tầng lớp trung lưu trong xã hội có thể thu được lợi nhuận nhỏ giọt từ việc bùng nổ phát triển kinh tế hiện nay sẽ ngăn cản chậm hơn nữa tiến trình cải cách Châu Âu.   

Nhiều người cho rằng sự thay đổi trong vài năm trở lại đây đơn giản là những bước tiếp theo của quá trình phân cách giữa người giàu và người nghèo đã bắt đầu từ thời Tổng thống Reagan cầm quyền. Trong các năm 50 và 60, thời kỳ thanh bình và êm ả của tầng lớp dân Mỹ trung lưu, nền kinh tế tăng trưởng mạnh mẽ và các lợi ích do sự tăng trưởng mang lại được chia sẻ rộng rãi và đều khắp. Chỉ có khoảng cách nhỏ giữa người có thu nhập thấp nhất và người có thu nhập cao nhất. Sau cuộc khủng hoảng dầu mỏ vào năm 1973, sự tăng trưởng kinh tế đột nhiên chững lại. Và vài năm sau, khi bắt đầu thập niên 80, khoảng cách giàu nghèo bắt đầu tăng lên.

Mức độ chính xác của khoảng cách giữa người giàu và người nghèo phụ thuộc vào cách bạn tính toán. Nếu xét trên khía cạnh tiền lương, nguồn thu nhập chính của hầu hết mọi người, bạn sẽ làm giảm đi tầm quan trọng của dịch vụ chăm sóc sức khoẻ và các lợi ích khác. Nếu xét trên thu nhập tính theo hộ gia đình thì bạn cần tính đến sự thu nhỏ về quy mô của hộ gia đình trong vài thập kỷ gần đây do sự phát triển của các gia đình đơn thân. Nếu nhìn vào các số liệu thống kê về chi tiêu, bạn sẽ nhận thấy khoảng cách giữa lớp người ở tầng lớp trên và lớp người có tầng lớp dưới hẹp hơn khi so sánh về thu nhập. Tuy nhiên, mọi cách so sánh đều cho thấy, qua hơn ¼ thế kỷ, dân cư tầng lớp trên đã kiếm tiền giỏi hơn dân cư tầng lớp trung lưu, và tầng lớp trung lưu kiếm tiền giỏi hơn dân cư tầng lớp dưới. Lợi ích thu được từ việc tăng trưởng kinh tế của các bộ phận dân cư, vì thế, ngày càng chênh lệch. 

Nếu thử đặt tất cả dân Mỹ trên một chiếc thang có 10 bậc, khoảng cách về lương của những người ở bậc 9 so với những người ở bậc thứ nhất tăng lên 1/3 lần so với khoảng cách năm 1980. Nói một cách khác, thu nhập thực sự của một công nhân điển hình giờ đây chỉ tăng thêm 10% so với mức thu 25 năm trước dù nền kinh tế tổng thể đã tăng trưởng nhanh hơn nhiều. Các nhà kinh tế đã tranh cãi rất nhiều về nguyên nhân tại sao lại có sự chênh lệch đột biến về thu nhập của người dân Mỹ từ sau năm 1980. Nguyên nhân chủ yếu là sự thay đổi về công nghệ, nhân tố dẫn đến sự đòi hỏi ngày càng gia tăng số công nhân có tay nghề trong một nền kinh tế tự do đòi hỏi tăng cường hiệu quả lao động. Một vài bằng chứng cho thấy rằng những sự thay đổi về thể chế, đặc biệt là sự suy yếu của của các nghiệp đoàn, khiến tầng lớp dân cư thấp trong xã hội ngày càng gặp khó khăn hơn. 

Việc nhìn nhận những sự thay đổi này tốt hay xấu phụ thuộc vào niềm tin chính trị của mỗi người. Những người thường hay than vãn về khoảng cách giàu nghèo có vẻ như quên rằng chính sự chênh lệch ngày càng lớn về khoảng cách này đã tạo nên động cơ thúc đẩy nền giáo dục, tạo ra một lực lượng lao động được đào tạo tốt hơn và có năng suất lao động cao hơn. Hiện nay, số công nhân Mỹ có trình độ đại học chiếm hơn 30%, so với 20% vào năm 1980.  

Tầng lớp trung lưu 

Dường như cả phía những người ủng hộ và những người than vãn về khoảng cách chênh lệch giàu nghèo đều có xu hướng bỏ sót một vài điểm. Trước hết, trên thực tế, sự gia tăng tình trạng bất bình đẳng tại Mỹ đã không còn tiếp diễn. Khoảng cách giữa bộ phận công nhân ở lớp dưới và bộ phận công nhân ở lớp giữa – dù trên khía cạnh kỹ năng, tuổi tác, kinh nghiệm, hoặc thu nhập- đã có sự cách biệt lớn vào những năm 1980. Vào năm 1990, những người bỏ dở học hành cấp trung học có thu nhập trung bình mỗi tuần ít hơn 12% so với mức họ thu được vào năm 1980 những người có trình độ giáo dục trung học có thu nhập ít hơn 6%. Sự chênh lệch này vẫn ở mức ổn định và thậm chí, ở một chừng mực nhất định, sự chênh lệch này còn được thu hẹp trong những năm 1990, đặc biệt trong những năm cuối thập kỷ 90. Mức lương thật sự của công nhân ở tầng lớp dưới tăng nhanh hơn so với những công nhân ở lớp giữa.  

Sau năm 2000, hầu hết mọi người mất nền tảng kiến thức, nhưng xét trên một chừng mực nào đó, những người ở mức giữa của nấc thang về độ lành nghề và giáo dục lại có vẻ vất vả hơn so với những người ở mức thấp hơn. Những người học đại học nhưng không có bằng cấp lại có mức sống kém hơn những người bỏ học trung học. Các số liệu thống kê cho thấy lần đầu tiên, thu nhập hàng năm của người Mỹ có bằng đại học giảm tương đối so với những người có trình độ trung cấp trong nhiều thập kỷ. Vì vậy, nếu những năm 1980 là những năm vất vả nhất với những người có tay nghề bậc thấp nhất, những người có trình độ ở mức giữa lại rất vất vả trong những năm 1990 và trong thập kỷ này.  

Một xu hướng thực sự đang tiếp diễn trong 25 năm qua là sự tập trung nhiều hơn vào mức thu nhập của những người giàu nhất. Không nhìn thấy rõ ràng giới hạn của sự dịch chuyển này từ những cách tính toán phổ biến nhất về thu nhập hoặc tiền lương vì các cách tính toán này chưa phân chia đủ nhỏ. Nhưng một số nghiên cứu gần đây đã phân tích tỷ mỉ các hồ sơ thuế để khảo sát điều gì đang xảy ra với thu nhập của những người có mức thu nhập cao nhất. 

Những số liệu này đang khiến nhiều người phải sửng sốt. Theo Emmanuel Saez của Trường Đại học tổng hợp California, Barkeley và Thomas Piketty của Ecole Normale Supérieure tại Pari, toàn bộ thu nhập của 1% những người Mỹ giàu có nhất đã tăng lên gấp đôi, từ 8% vào năm 1980 lên đến hơn 16% vào năm 2004. Thu nhập của 10 người giàu nhất trong số 1% những người có thu nhập cao nhất này tăng lên gấp 3, từ 2% năm 1980 lên đến 7% vào thời điểm hiện nay. Và thu nhập của 100 người giàu nhất trong số 1% này, 14.000 người nộp thuế thu nhập cao nhất,  đã tăng lên gấp 4, từ 0,65% năm 1980 lên đến 2,87% năm 2004. 

Hãy đặt những phần bánh thu nhập này cạnh nhau và dù bạn không thấy bức tranh về tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập ngày càng tăng nhưng đó là cái mà Lawrence Katz của Trường Đại học tổng hợp Havard, David Autor của Viện Công nghệ Masschusetts gọi là sự phân cực trên thị trường lao động. Bộ phận công nhân ở có tay nghề thấp không còn tụt lại ở phía sau nữa, nhóm công nhân lành nghề nhất vẫn vượt xa về thu nhập và nhóm công nhân có mức tay nghề trung bình đang phải chịu sức ép trên thị trường lao động. 

Siêu sao và những người bị vắt kiệt sức lao động  

Liệu những thay đổi về công nghệ có giải thích được bức tranh này? Máy tính và internet đã làm giảm nhu cầu về những công việc thông thường chỉ đòi hỏi trình độ trung bình, chẳng hạn như công việc của nhân viên ngân hàng trong khi lại gia tăng nhu cầu về các công việc đòi hỏi trình độ cao nhất. Các nghiên cứu tại Anh, Đức và Mỹ cho thấy từ đầu những năm 1990, tốc độ phát triển của các nghề nghiệp dễ được máy tính hoá đã chậm lại. 

Với những lao động tài năng và lành nghề nhất, công nghệ làm tăng thêm thị trường lao động tiềm năng và năng suất lao động. Chẳng  hạn như những người dẫn chương trình và những vận động viên hàng đầu giờ đây biểu diễn cho khán giả toàn cầu. Các nhà kinh tế tin rằng sự thay đổi về công nghệ giải thích cho mức thu nhập cao của các nhân viên hành chính hàng đầu. Có giả thuyết cho rằng công nghệ thông tin khiến các nhà quản lý hàng đầu trở nên năng động hơn vì giờ đây, người ta không còn mất hàng năm trời để nắm bắt được những điều phức tạp ở bất cứ một ngành công nghiệp nào. Kết quả là, thị trường lao động của các nhân viên chuyên ngành  hành chính ngày càng được mở rộng và mức lương họ thu được ngày càng cao. Rõ ràng là các công ty toàn cầu đã thực hiện việc cạnh tranh nhằm tìm kiếm tài năng trên quy mô toàn cầu: Chủ của công ty Alcoa là người Brazil, Giám đốc hành chính của Sony là người Mỹ (và người xứ Wales). 

Tuy nhiên, phạm vi thu nhập của người Mỹ tập trung vào phần cao nhất, và trên thực tế, không có một nước nào khác nhận thấy sự thay đổi mạnh mẽ này lại tiến hành các nghiên cứu về các nguyên nhân khác gây ra sự thay đổi này. Một giám đốc hành chính điển hình người Mỹ hiện nay thu nhập gấp 300 lần mức thu nhập trung bình, tăng gấp 10 lần so với thu nhập những năm 1970. Tuy nhiên, điều tương tự không xảy ra với các giám đốc Châu Âu lục địa. Sự tương phản này càng nhấn mạnh hơn thuyết “tài phiệt” về tình trạng bất bình đẳng: các thương nhân thu được những khoản lương kếch xù từ chi phí của các cổ đông. 

Dù chọn cách nào để giải thích cho việc gia tăng sự thay đổi về thu nhập, những thay đổi này có vẻ không chỉ tạm thời. Có vẻ như những công nhân ở mức giữa của thị trường lao động đang ngày càng bị vắt kiệt sức lao động. Và cảm giác bị vắt kiệt này càng trở nên tồi tệ hơn do một thay đổi khác ảnh hưởng tới số công nhân này: sự thay đổi bất thường ngày càng xảy ra nhiều hơn trong thu nhập của mọi người.  

Xét về tổng thể, nền kinh tế đã phát triển một cách ổn định trong suốt 25 năm qua. Trong 20 năm qua, kinh tế Mỹ chỉ có 2 lần rơi vào tình trạng suy thoái, 1 lần vào những năm 1990-1991 và 1 lần vào năm 2001. Và cả 2 lần suy thoái này chỉ ở mức trung bình trong lịch sử. Tuy nhiên, đời sống trở nên khó kiểm soát hơn với các công ty và thu nhập của mọi người trong năm so với năm kế tiếp giờ đây thay đổi bất thường hơn nhiều so với mức thay đổi của thế hệ trước. Một số minh chứng cho thấy các xu hướng thay đổi thu nhập ngắn hạn phản ánh sự thay đổi về tiền lương và điều này có thể ảnh hưởng nhiều nhất tới lớp công nhân có trình độ trung bình. 

Vậy điều gì sẽ xảy ra trong tương lai? Có thể mô hình ôn hoà của những năm cuối thập kỷ 90 sẽ quay trở lại. Sự lãnh đạo không hiệu quả của ông Bush có thể phản ánh một thị trường lao động yếu kém hơn trước đây. Mặc dù tỷ lệ thất nghiệp vẫn ở mức thấp là 4,6%, những dấu hiệu khác chẳng hạn như sự cân đối trên thị trường người lao động có vẻ mâu thuẫn với sự phát triển bùng nổ của nền kinh tế. 

Hơn nữa, những thay đổi cơ cấu trên thị trường lao động tại Mỹ đã xuất hiện từ thập kỷ 1990 giờ đây càng được tăng cường do những thay đổi lớn trong nền kinh tế toàn cầu. Sự hội nhập của hàng triệu công nhân Trung Quốc tay nghề thấp, sự gia tăng các dịch vụ xuất khẩu sang Ấn Độ và các nước khác càng mở rộng nguồn cung nhân công toàn cầu. Thực trạng này cũng khiến giá nhân công giảm tương đối và làm tăng thêm vòng quay của đồng vốn. Điều này cũng khiến thu nhập tập trung hơn vào nhóm những người giàu vì hầu hết cổ phần và cổ phiếu do những người giàu có hơn nắm giữ. Và quan trọng hơn, quá trình toàn cầu hoá đã bẻ gãy mối liên hệ truyền thống giữa kỹ năng và tiền lương. 

Như Frank Levy của Viện Công nghệ thông tin Massachusset đã chỉ ra, lao động bên ngoài  và công nghệ là 2 vấn đề tồn tại song song với nhau vì cả hai vấn đề này đều làm giảm nhu cầu về nhân công, dù là nhân công làm kế toán hoặc nhân công làm việc theo thời vụ. Ngược với nhận định này, Alan Blinder ở Trường Đại học Princeton lại cho rằng nhu cầu về nhân công lành nghề phụ thuộc vào việc người ta quen sử dụng lao động như thế nào: người Ấn độ ở Bangalore có thể hiểu được tia X-quang tại Boston nhưng các công sở ở xa không thể sạch sẽ, gọn gàng. Do vậy khó có thể đoán trước được bộ phận công nhân nào sẽ bị vắt kiệt sức lao động và bộ phận công nhân nào thì không bị như vậy. 

Số lượng các dịch vụ nghề nghiệp của Mỹ chuyển sang sử dụng nhân công nước ngoài giờ đây đã ít hơn, nhiều nhất chỉ khoảng 1 triệu. Và hầu hết các nghề nghiệp này chỉ đòi hỏi nhân công ít kỹ năng, chẳng hạn như nhân viên trực tổng đài. Ông Frank Levy cho rằng chỉ 15 chuyên gia X-quang ở Ấn Độ hiện nay hiểu được tia X của Mỹ, nhưng 9 trên 10 người Mỹ lo ngại về những lao động nước ngoài. Nỗi sợ này đủ lớn để họ giữ nguyên mức lương của nhân công có trình độ đào tạo sau đại học trong các ngành công nghiệp dịch vụ. 

Nhìn chung, sự phân bổ thu nhập của dân Mỹ có vẻ đang diễn tiến tiếp tục theo chiều hướng của những năm qua. Trong khi những nhân công lành nghề nhất vẫn tiếp tục được hưởng  mức lương cao, lớp công nhân mức trung vẫn tiếp tục phải chịu nhiều thay đổi về thu nhập của mình. Những hậu quả về mặc chính trị sẽ phụ thuộc vào tốc độ của những sự thay đổi và sự bình ổn của nền kinh tế nói chung. Hy vọng rằng, những dịch vụ xuất khẩu sẽ xuất hiện dần dần, cho phép công nhân có đủ thời gian để điều chỉnh những kỹ năng của họ trong điều kiện nền kinh tế phát triển mạnh đòi hỏi một lượng lớn nhân công, Nhưng nếu nền kinh tế tăng trưởng chậm, chắc chắn sự hoài nghi của người Mỹ về quá trình toàn cầu hoá sẽ tăng lên, và thậm chí sự khoan dung vốn khá nổi tiếng về tình trạng bất bình đẳng trong thu nhập của họ sẽ đến giới hạn.

Nguồn: VCCI

 



Bài viết khác
  • Trường Dạy Nghề Ẩm thực NetSpace
  • Bảng Ghim
  • Trường đại học Kinh Tế Kỹ Thuật Bình Dương
  • Hội doanh nhân
  • Liên Minh Thương Mại - Cổng Xúc Tiến Thương Mại Điện Tử Doanh Nghiệp Việt Nam
  • Trung tâm đào tạo văn hóa nghệ thuật IICM